Dữ liệu thực tế tiết lộ: các yếu tố chính giúp dự đoán sự biến đổi thành công của HCC từ không thể cắt bỏ được sang phẫu thuật cắt bỏ điều trị bằng T+A

Atezolizumab kết hợp với bevacizumab (T+A) đã được phê duyệt để sử dụng trên toàn cầu vào năm 2020 sau khi đạt được kết quả khả quan trong thử nghiệm IMbrave150 giai đoạn 3.
Dữ liệu thực tế tiết lộ: các yếu tố chính giúp dự đoán sự biến đổi thành công của HCC từ không thể cắt bỏ được sang phẫu thuật cắt bỏ điều trị bằng T+A

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng liệu pháp này có hiệu quả điều trị cao ở những bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) tiến triển không thể cắt bỏ [tỷ lệ đáp ứng tổng thể (ORR) 30%, khoảng tin cậy (CI) 95%: 25-35]. Liệu pháp chuyển đổi T+A là một chiến lược điều trị mới. Tuy nhiên, không phải tất cả bệnh nhân HCC được điều trị bằng T+A đều có thể trải qua liệu pháp chuyển đổi. Vì vậy, điều quan trọng là xác định các yếu tố phù hợp nhất cho liệu pháp chuyển đổi sau T+A.

Gần đây, một nghiên cứu được công bố trên Liver International đã sử dụng dữ liệu thực tế để xác định các yếu tố dự đoán liên quan đến liệu pháp chuyển đổi thành công sau khi điều trị bằng T+A đối với HCC không thể cắt bỏ, theo báo cáo mới.

Phương pháp nghiên cứu

Tổng cộng có 188 bệnh nhân HCC được điều trị đầu tiên bằng T+A. Những bệnh nhân đạt được đáp ứng hoàn toàn (CR) chỉ với liệu pháp toàn thân đã được loại trừ và các yếu tố lâm sàng có thể liên quan đến việc chuyển sang điều trị thành công và đạt được tình trạng không còn ung thư đã được xác định.

Kết quả nghiên cứu

Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 76 tuổi và 139 (73,9%) là nam giới. Trong số đó, 113 bệnh nhân (60,1%) có điểm Child-Pugh là 5 và điểm ALBI trung bình là -2,4. Những bệnh nhân này bao gồm 98 (52,4%) bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn C BCLC. Tỷ lệ bệnh nhân đạt CR, PR, SD và PD lần lượt là 2,6%, 33,2%, 40,9% và 23,3%. Tỷ lệ hiệu quả tổng thể [ORR (tức là CR+PR)] là 35,8% và tỷ lệ kiểm soát bệnh [DCR (tức là CR+PR+SD)] là 76,7%.

Trong số 64 bệnh nhân đạt được PR thông qua điều trị T+A, 15 bệnh nhân (23,4%) được điều trị chuyển đổi. Trong nhóm chuyển đổi, tỷ lệ bệnh nhân mắc BCLC giai đoạn A hoặc B cao hơn đáng kể (73,3% so với 45,1%; P=0,03), đồng thời điểm Child-Pugh và mức alpha-fetoprotein (AFP) thấp hơn. Phân tích đa biến cho thấy giai đoạn BCLC là yếu tố dự đoán việc thực hiện liệu pháp chuyển đổi [A hoặc B; tỷ lệ chênh lệch 3,7 (KTC 95%: 1,1-13);

640 - 2024-04-25T054022.038.

Phân tích hồi quy logistic của các thông số liên quan đến liệu pháp chuyển đổi

Ngoài ra, 10 bệnh nhân (66,7%) đạt được tình trạng không còn ung thư khi bắt đầu điều trị và ít biểu hiện bệnh trong gan hơn (3,5 so với 7; P < 0,01) và khoảng thời gian ngắn hơn giữa liệu pháp toàn thân và liệu pháp chuyển đổi (131 ngày so với 404). ngày; p<0,01). Tỷ lệ khỏi bệnh bằng phẫu thuật cắt bỏ hoặc cắt bỏ cao hơn đáng kể (p=0,03).

Về tiên lượng bệnh nhân, những bệnh nhân đạt được PR thông qua liệu pháp toàn thân có thời gian sống sót lâu hơn so với những bệnh nhân chỉ điều trị bằng T+A (p<0,01). . Tỷ lệ.

Kết luận phân tích 

Khi sử dụng T+A để điều trị HCC, giai đoạn BCLC là yếu tố dự báo duy nhất về việc chuyển sang liệu pháp chuyển đổi thành công. Hơn nữa, một lượng nhỏ bệnh trong gan và việc chuyển đổi sớm sang liệu pháp chuyển đổi có liên quan đến việc đạt được tình trạng giảm nguy cơ tiến triển bệnh, qua đó tăng tiên lượng sống cho bệnh nhân.

Bàn luận

Liệu pháp T+A có tỷ lệ đáp ứng cao, tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ bệnh nhân và đặc điểm nào có thể chuyển sang liệu pháp chuyển đổi và đạt được tình trạng không còn ung thư. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ chuyển đổi từ T+A sang liệu pháp chuyển đổi là khoảng 8,0%. Nghiên cứu lần đầu tiên làm rõ rằng bệnh nhân mắc HCC BCLC giai đoạn A hoặc B là những ứng cử viên sáng giá để chuyển sang liệu pháp chuyển đổi. Hơn một nửa (67%) bệnh nhân được điều trị chuyển đổi đã khỏi bệnh ung thư trong ít nhất 6 tháng. Những bệnh nhân đạt được trạng thái không còn ung thư sau liệu pháp chuyển đổi sẽ có ít tổn thương trong gan hơn trong quá trình điều trị cảm ứng, cần thời gian điều trị chuyển đổi ngắn hơn và đang ở trạng thái có thể chọn liệu pháp phẫu thuật cắt bỏ hoặc cắt bỏ.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ chuyển đổi sau T+A có thể đạt 35,5%, nhưng kết quả của nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ chuyển đổi thấp hơn (khoảng 8%), có thể do sự khác biệt về đặc điểm cơ bản của bệnh nhân. Các nghiên cứu trước đây chỉ bao gồm những bệnh nhân mắc HCC giai đoạn trung bình và nghiên cứu này cũng bao gồm những bệnh nhân mắc HCC giai đoạn tiến triển. Hơn nữa, T+A đã được báo cáo là rất hiệu quả trong điều trị HCC giai đoạn trung bình. Nghiên cứu này cũng cho kết quả tương tự, với tỷ lệ chuyển đổi cao khi chỉ đưa vào HCC giai đoạn trung bình.

Hiện tại, liệu pháp T+A được khuyến nghị cho bệnh nhân HCC giai đoạn BCLC "B" không thể cắt bỏ. Trong trường hợp này, nếu tổng số khối u nhỏ, nên sử dụng phương pháp điều trị T+A tích cực hơn cho bệnh nhân HCC BCLC giai đoạn B không thể cắt bỏ và cân nhắc thời điểm điều trị chuyển đổi thích hợp.

Trước đây, hiệu quả của sự kết hợp lenvatinib và TACE trong điều trị HCC giai đoạn BCLC "B" không thể cắt bỏ cũng đã được báo cáo, nhưng vẫn chưa rõ liệu lenvatinib hay T+A có nên được sử dụng làm phương pháp điều trị tiêu chuẩn trước khi điều trị chuyển đổi hay không, đặc biệt khi số lượng của khối u khi ít hơn, đây là vấn đề cần được làm rõ trong thời gian tới.

Tóm lại, BCLC giai đoạn A hoặc B có liên quan đến liệu pháp chuyển đổi khi T+A được sử dụng để điều trị HCC không thể cắt bỏ. Trạng thái không còn ung thư tiếp theo có thể đạt được, đặc biệt khi số lượng tổn thương trong gan bị hạn chế và việc đáp ứng thuốc sớm của khối u với T+A được quan sát thấy. Kết quả này cần được xác nhận thêm bằng các nghiên cứu tiền cứu quy mô lớn trong tương lai.

Nguồn:

Kikuchi T, Takeuchi Y, Nouso K, et al. Predictive factors for transition to conversion therapy in hepatocellular carcinoma using atezolizumab plus bevacizumab[J]. Liver International, 2024.


Có thể bạn quan tâm