Nghiên cứu lâm sàng | 041: NCT00822562 Nghiên cứu phẫu thuật điều trị ung thư gan

Nghiên cứu NCT00822562 về phẫu thuật điều trị ung thư gan: So sánh hiệu quả lâu dài của phẫu thuật cắt gan lặp lại và cắt bỏ tần số vô tuyến trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan tái phát sớm (2020), cùng xem nhé!
Nghiên cứu lâm sàng | 041: NCT00822562 Nghiên cứu phẫu thuật điều trị ung thư gan
Bối cảnh và mục đích nghiên cứu
  • Hiện nay, phẫu thuật cắt gan lại (RHR) và đốt sóng cao tần (PRFA) là những phương pháp điều trị được sử dụng phổ biến nhất cho ung thư biểu mô tế bào gan tái phát giai đoạn đầu (RHCC). Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây so sánh hiệu quả lâu dài của hai phương pháp điều trị này có kết quả trái ngược nhau và không có nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng trong tương lai có liên quan. Nghiên cứu NCT00822562 so sánh hiệu quả và độ an toàn lâu dài của RHR và PRFA trong điều trị RHCC giai đoạn đầu.
Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu NCT00822562 là một nghiên cứu lâm sàng song song, ngẫu nhiên, không mù, có đối chứng. Thiết kế được thể hiện trong Hình 1.

222222.

Hình 1 Thiết kế nghiên cứu NCT00822562

Nhận xét

Tiêu chuẩn lựa chọn: 20-60 tuổi; dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán HCC của Hiệp hội Nghiên cứu Bệnh Gan Hoa Kỳ (AASLD), tiền sử cắt bỏ HCC trước đây và phù hợp với chẩn đoán RHCC; Cắt bỏ R0, bệnh lý sau phẫu thuật xác nhận không còn bệnh sót lại , không xâm lấn mạch máu lớn và di căn ngoài gan; PS 0-1 điểm; Child-Pugh độ A; đường kính khối u đơn lẻ 5 cm hoặc ba khối u trở xuống với đường kính 3 cm; bệnh nhân có khoảng cách ≥1 cm giữa khối u và xung quanh các cơ quan và nền mạch máu.

Kết quả nghiên cứu

Từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 1 năm 2013, tổng cộng 240 bệnh nhân mắc RHCC giai đoạn đầu từ Bệnh viện Phẫu thuật Gan mật Phương Đông/Trung tâm Ung thư Gan Quốc gia ở Thượng Hải, Trung Quốc, được chỉ định ngẫu nhiên để nhận RHR (N=120) hoặc PRFA (N=120). ) theo tỷ lệ 1:1. ) xử lý. Thời gian theo dõi trung bình của nghiên cứu là 44,3 (4,3-90,6) tháng và 107 (89,1%) bệnh nhân trong nhóm RHR và 110 (91,7%) bệnh nhân trong nhóm PRFA đã hoàn thành thử nghiệm. Trong nhóm bệnh nhân có ý định điều trị (ITT), không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hệ điều hành và rRFS giữa hai nhóm bệnh nhân. Tỷ lệ sống sót sau 1, 3 và 5 năm của bệnh nhân ở nhóm RHR và nhóm PRFA lần lượt là 92,5%, 65,8%, 43,6% và 87,5%, 52,5%, 38,5% (P=0,17); 1, 3 và rRFS 5 năm lần lượt là 85,0%, 52,4%, 36,2% và 74,2%, 41,7%, 30,2% (P=0,09). 

Tỷ lệ tái phát khối u sớm và tỷ lệ tái phát khối u cục bộ ở nhóm PRFA cao hơn đáng kể so với nhóm RHR. Tỷ lệ tái phát khối u sớm của hai nhóm bệnh nhân lần lượt là 23,3% và 40,3% (P=0,04); tỷ lệ tái phát khối u cục bộ lần lượt là 22% và 38% (P=0,04). Tỷ lệ biến chứng chung, tỷ lệ biến chứng độ 3/4 và thời gian nằm viện ở nhóm RHR cao hơn đáng kể so với nhóm PRFA; tỷ lệ biến chứng chung ở hai nhóm lần lượt là 22,4% và 7,3% (P=0,001); 3 Tỷ lệ mắc biến chứng độ/4 lần lượt là 6,0% và 1,6% (P=0,09); thời gian nằm viện trung bình lần lượt là 8,0 (5,0-21,0) ngày và 3,0 (1,0-7,0) ngày (P<0,001).

Phân tích đa yếu tố cho thấy kích thước khối u nguyên phát, số lượng khối u nguyên phát, có xâm lấn vi mạch hay không, nồng độ alpha-fetoprotein (AFP) trước phẫu thuật, kích thước khối u tái phát và thời gian khối u tái phát là những yếu tố nguy cơ độc lập. các yếu tố ảnh hưởng đến hệ điều hành Phân tích phân nhóm cho thấy trong số những bệnh nhân RHCC sớm có đường kính khối u tái phát > 3 cm (HR 1,72, 95% CI 1,05-2,84) hoặc mức AFP > 200 ng/mL (HR 1,85, 95% CI 1,15-2,96), hệ điều hành nhóm RHR cao hơn, xem Bảng 1.

Bảng 1 Tóm tắt dữ liệu hiệu quả chính trong nghiên cứu NCT00822562

333333.

Kết luận phân tích

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về OS và rRFS ở những bệnh nhân mắc RHCC giai đoạn đầu được điều trị bằng RHR và PRFA. Điều trị PRFA có ít biến chứng hơn và thời gian nằm viện ngắn hơn điều trị RHR. Tuy nhiên, đối với bệnh nhân RHCC giai đoạn đầu có đường kính khối u >3 cm hoặc mức AFP >200 ng/mL, RHR sẽ tốt hơn trong việc ngăn ngừa tái phát khối u cục bộ và kéo dài thời gian sống thêm.

Bàn luận

Ung thư gan nguyên phát là một trong những bệnh ác tính phổ biến nhất ở nước tôi, tỷ lệ mắc bệnh đứng thứ tư trong số các khối u ác tính và tỷ lệ tử vong đứng thứ ba, là khối u ác tính, có xu hướng tái phát cao, sau 5 năm cắt bỏ triệt để Tỷ lệ tái phát vẫn cao tới 70%-80%. Do đó, chẩn đoán và điều trị kịp thời và chính xác là rất quan trọng để cải thiện tiên lượng của bệnh nhân RHCC.

Hiện tại, chưa có lựa chọn điều trị được khuyến nghị rõ ràng cho RHCC trong các hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư gan trong và ngoài nước. Chiến lược điều trị RHCC bao gồm các phương pháp điều trị triệt để như RHR, PRFA và ghép gan. Tuy nhiên, do những hạn chế như thiếu người hiến, đại đa số bệnh nhân RHCC (đặc biệt là giai đoạn đầu) được điều trị bằng RHR, PRFA và các phương pháp khác. Trong những năm gần đây, một số lượng lớn các nghiên cứu lâm sàng đã so sánh hiệu quả lâu dài của RHR và PRFA trong điều trị RHCC giai đoạn đầu, tuy nhiên, các kết quả còn mâu thuẫn, cỡ mẫu nhỏ và đều là nghiên cứu hồi cứu. Không có nghiên cứu RCT có liên quan.

Vẫn còn thiếu bằng chứng y tế dựa trên bằng chứng ở mức độ cao hơn để lựa chọn các phương pháp điều trị triệt để cho RHCC. Nghiên cứu NCT00822562 là nghiên cứu RCT đầu tiên so sánh hiệu quả và độ an toàn lâu dài của RHR và PRFA trong điều trị RHCC giai đoạn đầu. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở những bệnh nhân mắc RHCC giai đoạn đầu, không có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê về Hệ điều hành và rRFS giữa RHR và PRFA. Điều trị PRFA có ít biến chứng hơn và thời gian nằm viện ngắn hơn điều trị RHR. Tuy nhiên, đối với bệnh nhân RHCC giai đoạn đầu có đường kính khối u >3 cm hoặc mức AFP >200 ng/mL, RHR sẽ tốt hơn trong việc ngăn ngừa tái phát khối u cục bộ và kéo dài thời gian sống thêm.

PRFA có ưu điểm đối với các tổn thương 3 cm và có thể cắt bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, đối với các tổn thương trên 3 cm, tỷ lệ cắt bỏ hoàn toàn sẽ giảm và bị ảnh hưởng bởi một số vị trí giải phẫu đặc biệt. Đôi khi cần phải phẫu thuật cắt bỏ để đạt được sự cắt bỏ hoàn toàn hơn. Mặt khác, PRFA đôi khi phù hợp hơn với những tổn thương ở những vị trí đặc biệt khó loại bỏ bằng phẫu thuật. Do đó, để các tổn thương tái phát sớm, cần đánh giá toàn diện dựa trên kích thước, hình dạng, các mạch máu và cơ quan lân cận, chỉ số khối u, dự trữ chức năng gan và các yếu tố khác, đồng thời tiến hành điều trị theo từng cá nhân trong khuôn khổ hướng dẫn. .

Nghiên cứu này có một số hạn chế nhất định: thứ nhất, nghiên cứu này là một thử nghiệm không mù quáng và việc đánh giá kết quả có thể gây ra sai lệch chủ quan; thứ hai, do thiếu hiệu chỉnh bội số, kết quả phân tích phân nhóm cần được kiểm tra thêm, điều này có thể làm tăng Loại Lỗi I dẫn đến kết quả dương tính giả; cuối cùng, hầu hết các bệnh nhân được đưa vào đều là bệnh nhân RHCC bị nhiễm vi rút viêm gan B và liệu kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho bệnh nhân RHCC không nhiễm vi rút viêm gan B hay không cần phải nghiên cứu thêm. Bằng chứng nghiên cứu hiện tại cho thấy cả RHR và PRFA đều là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho RHCC giai đoạn đầu và không có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê về hiệu quả lâu dài, nên dựa trên tình trạng thực tế của bệnh nhân để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

Nguồn:

[1] CHEN W, ZHENG R, BAADE P D, et al. Cancer statistics in China, 2015. CA Cancer J Clin. 2016; 66(2): 115-132.

[2] European Association for the Study of the Liver. EASL Clinical Practice Guidelines:Management of Hepatocellular Carcinoma. J Hepatol. 2018; 69(1): 182-236.

[3] SONG K D, LIM H K, RHIM H, et al. Repeated Hepatic Resection versus Radiofrequency Ablation for Recurrent Hepatocellular Carcinoma after Hepatic Resection: A Propensity ScoreMatching Study. Radiology. 2015; 275(2): 599-608.

[4] CHEN X, CHEN Y, LI Q, et al. Radiofrequency ablation versus surgical resection for intrahepatic hepatocellular carcinoma recurrence: a meta-analysis. J Surg Res. 2015; 195(1): 166-174.


Có thể bạn quan tâm