
Nghiên cứu đoàn hệ 10 năm cho thấy Child-Pugh vẫn giúp phân tầng nguy cơ tử vong ở bệnh nhân xơ gan nhập viện, đặc biệt nhóm Child-Pugh C.


Ngưng thuốc viêm gan B có thể gây ALT tăng. Nghiên cứu mới cho thấy cần phân biệt good flare và bad flare bằng theo dõi sát.
Viêm gan B sau sinh có thể là cửa sổ miễn dịch đặc biệt. Peg-IFNα giúp nhóm HBsAg thấp đạt tỷ lệ sạch HBsAg 30–40%.
TACE điều trị ung thư gan phối hợp TKI và miễn dịch giúp kéo dài PFS, OS và tăng cơ hội chuyển đổi phẫu thuật trong nghiên cứu hồi cứu.
Rượu gây xơ gan không diễn ra trong một ngày, mà qua gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu, xơ hóa và cuối cùng là xơ gan.
Dấu ấn sinh học ung thư gan giúp phát hiện sớm, dự báo tiên lượng và lựa chọn điều trị phù hợp hơn, nhưng AFP đơn độc còn nhiều giới hạn.
Dinh dưỡng cho người xơ gan cần được đánh giá sớm. Ăn thiếu, mất cơ và thiếu đạm có thể làm điều trị kém hiệu quả hơn.
Đồng nhiễm HBV HIV thường khó sạch HBsAg. Nghiên cứu EASL 2026 gợi ý thêm Peg-interferon có thể giúp nhóm chọn lọc đạt đáp ứng cao hơn.
AFP tầm soát ung thư gan có thể tăng độ nhạy nếu được dùng chủ động hơn. Nghiên cứu Hàn Quốc đề xuất ngưỡng AFP 7 ng/mL.
Thiếu kẽm ở bệnh nhân xơ gan khá thường gặp. Nghiên cứu mới cho thấy mức kẽm dưới 70 µg/dL có thể liên quan tiên lượng xấu hơn.
Viêm gan B và gan nhiễm mỡ có thể phối hợp làm tăng nguy cơ xơ hóa gan, dù HBV lại liên quan đến tỷ lệ MASLD thấp hơn.
Nghiên cứu trên 478 bệnh nhân HCC có PVTT cho thấy TACE/HAIC phối hợp thuốc đích và miễn dịch giúp kéo dài OS và PFS.
Hút thuốc không phải nguyên nhân duy nhất gây xơ gan, nhưng có thể thúc đẩy viêm, xơ hóa, gan nhiễm mỡ và ung thư gan.